[KỶ YẾU BÚA LIỀM VÀNG] Ngân hàng Vietcombank: vững vàng kiến tạo tầm vóc, tiến bước dưới lá cờ vinh quang của Đảng (Phần 2)

Tác phẩm đạt Giải Khuyến khích Giải Búa liềm vàng toàn quốc lần thứ X – năm 2025. Tác phẩm đăng trên Vietnam+ dưới dạng megastory, chi tiết phần 2.

Phần 2: Tạo dựng nền móng độc lập về tiền tệ, kiến tạo vị thế “rạng rỡ Việt Nam”

Từ tháng 5/1975, đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập, thống nhất, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Cùng với bước phát triển tiến bước của đất nước, Vietcombank không ngừng củng cố, kiện toàn về tổ chức; phát triển, mở rộng hệ thống; kịp thời điều chỉnh, chuyển đổi mô hình hoạt động đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Từ một ngân hàng hai cấp chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, đến năm 2008, Vietcombank đã phát triển thành ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động đa năng, chủ đạo, chủ lực của Nhà nước; khẳng định vị thế và uy tín vững chắc trên thị trường tài chính - tiền tệ trong nước và quốc tế; đột phá phát triển xanh, luôn tiên phong đổi mới trong hoạt động kinh doanh và công tác quản trị điều hành.

Nhìn lại lịch sử vẻ vang của đất nước, các thế hệ cán bộ, đảng viên, người lao động của Vietcombank tự hào không chỉ đã góp phần quan trọng vào việc tạo dựng nền móng độc lập về tiền tệ, mà còn vững vàng kiến tạo vị thế “rạng rỡ Việt Nam.”

Thống nhất “huyết mạch” tài chính trên cả nước

Ngay sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (năm 1975), ngành ngân hàng đã tiến hành thu đổi tiền ở miền Nam để ổn định kinh tế.

Lật mở lịch sử của ngành, đồng chí Nguyễn Thanh Tùng - Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank, cho biết trước năm 1975, hệ thống ngân hàng ở miền Nam rất đa dạng, gồm các ngân hàng công, bán công, ngân hàng tư, ngân hàng của tư bản nước ngoài, ngân hàng của các nhà tư sản dân tộc. Tính đến ngày giải phóng, miền Nam Việt Nam có 7 ngân hàng công lập và coi như công lập; 16 ngân hàng tư, không kể một số ngân hàng quan trọng đã đóng cửa; 14 chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Thời điểm miền Nam được giải phóng, hệ thống ngân hàng ở trong trạng thái gần như ngừng hoạt động do phần lớn các ngân hàng của nước ngoài và một số ngân hàng tư nhân đã rút vốn khỏi miền Nam từ trước. Tuy nhiên, Việt Nam còn một số tài khoản ở nước ngoài và hàng hóa nhập khẩu đã chi trả nhưng chưa về; một số tư nhân gửi tiền, ngoại tệ tại ngân hàng, không kịp tới lấy, còn tồn đọng…

Trong bối cảnh đó, từ đầu năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, vấn đề tiếp quản các ngân hàng ở miền Nam đã được Chính phủ đặt ra. Theo đó, Cục Ngoại hối - Vietcombank được giao nhiệm vụ nghiên cứu kinh nghiệm của ngân hàng các nước về cơ chế quản lý kinh doanh ngoại tệ tư bản chủ nghĩa.

Từ sự chủ động trên, ngày 19/4/1975, Trung ương Cục miền Nam đã chỉ thị: “Gấp rút chuẩn bị bộ máy tiếp quản hệ thống ngân hàng, tín dụng, quản lý các kho tiền và kim khí quý, nắm tình hình hoạt động ngân hàng, tín dụng qua hồ sơ tài liệu và các nguồn khai thác,… Theo dõi tình hình biến động tiền tệ trên thị trường, phát hiện kịp thời các thủ đoạn chống phá của địch phá rối thị trường tiền tệ.”

Theo sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, Cục Ngoại hối - Vietcombank bắt đầu nghiên cứu các giải pháp tiếp quản và thanh lý quốc tế đối với hệ thống ngân hàng ngoại hối ở miền Nam. Trên cơ sở đó, một đội ngũ cán bộ ngoại hối trẻ, được đào tạo ở các trường cao cấp, trung cấp của ngành, đã được bố trí để đảm đương nhiệm vụ trên. Cục Ngoại hối và Vietcombank cũng cử một đoàn đi nghiên cứu kinh nghiệm ở một số nước, trong đó có Liên Xô để chuẩn bị cho những năm tiếp theo.

Sau khi tiếp quản các ngân hàng ở Đà Nẵng, chính quyền cách mạng tiến hành tiếp quản toàn bộ hệ thống kinh tế - tài chính và huyết mạch kinh tế ở miền Nam.

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank cho hay ngày 30/4/1975, Sài Gòn được giải phóng, nhưng việc tiếp quản hệ thống ngân hàng ở đây đã được chuẩn bị ngay từ giữa tháng 4/1975. Lực lượng được giao tiếp quản hệ thống ngân hàng, đa phần là những cán bộ có kinh nghiệm về thị trường tài chính - tiền tệ của phương Tây; và một bộ phận từ Trung ương Cục miền Nam,…

Ngoài ra, đồng chí Nguyễn Văn Trân - Bí thư Trung ương Đảng còn dẫn một đoàn cán bộ liên ngành cấp tốc vào Trung ương Cục miền Nam trước ngày Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra. Trong đó, có đại diện ngành ngân hàng là ông Lê Hoàng - Phó Cục trưởng Cục Ngoại hối, kiêm Phó Giám đốc Vietcombank.

Nhờ chuẩn bị kỹ lưỡng một đội ngũ hùng hậu, hành quân thần tốc, đoàn cán bộ tiếp quản hệ thống ngân hàng đã theo sát bước chân của các chiến sĩ giải phóng quân. Từ buổi trưa ngày 30/4/1975, tất cả các ngân hàng đều đóng cửa, giao cho lực lượng quân đội giải phóng chốt giữ, đảm bảo cho công việc bàn giao.

Đến sáng 1/5/1975, đoàn cán bộ ngân hàng lần lượt tới làm việc và tiến hành tiếp quản Ngân hàng Quốc gia ở số 17 bến Chương Dương, Việt Nam Thương Tín ở số 79 Hàm Nghi và tất cả các ngân hàng khác. Trưởng ban Quân quản ngân hàng là ông Lữ Minh Châu, vốn là nhân viên ngân hàng cũ của chính quyền Sài Gòn.

Sau khi tiếp quản các hệ thống ngân hàng ở Sài Gòn, lần lượt hệ thống ngân hàng ở tất cả các tỉnh miền Nam cũng được tiếp quản. Đến tháng 6/1975, toàn hệ thống ngân hàng ở miền Nam đã trở thành một hệ thống thống nhất trên cả nước.

Vượt qua thử thách, đổi mới vươn mình

Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước được độc lập, thống nhất, Việt Nam đã nhanh chóng thống nhất sự quản lý về mặt Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực. Ngành ngân hàng cũng tiến hành hợp nhất Bắc - Nam. Từ đây, hình thành một hệ thống ngân hàng của cả nước: Ngân hàng Nhà nước Trung ương tại Hà Nội.

Tại các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương có các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước trung tâm làm chức năng quản lý nhà nước, hướng dẫn chỉ đạo kế hoạch hóa tiền tệ, tín dụng trên địa bàn. Tại các quận, huyện, thị xã, có các tổ chức Ngân hàng Nhà nước cơ sở để làm nhiệm vụ kinh doanh, phục vụ khách hàng.

Cũng từ đây, địa vị quốc tế của Việt Nam được nâng cao, do đó, các quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng được mở rộng. Phục vụ kinh tế đối ngoại là Vietcombank theo cơ chế kiêm nhiệm của Cục Ngoại hối thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thời điểm này, Vietcombank đã huy động được nhiều nguồn vốn khác nhau, từ vốn trong nước đến vốn nước ngoài và được Ngân hàng Nhà nước tiếp vốn.

Về công tác Đảng, đồng chí Nguyễn Thanh Tùng - Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank, cho biết trong giai đoạn đầu cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội từ năm 1975 đến năm 1987, Đảng bộ Ngân hàng Ngoại thương là Đảng bộ bộ phận trực thuộc Đảng bộ Ngân hàng Nhà nước Trung ương. Đảng ủy luôn quán triệt đầy đủ các chủ trương của Đảng, các Nghị quyết của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Trung ương, cùng những chính sách, định hướng phát triển của Nhà nước đối với ngành ngân hàng.

Trên cơ sở đó, Đảng bộ Ngân hàng Ngoại thương xây dựng thành các chương trình, kế hoạch cụ thể để lãnh đạo chuyên môn; chú trọng bồi dưỡng lập trường tư tưởng, phẩm chất đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân cho cán bộ, đảng viên. Nhờ đó, chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong toàn Đảng bộ được nâng lên, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ đã có những chuyển biến tích cực.

Theo “ngọn đuốc soi đường” của Đảng, trong bối cảnh lịch sử hết sức khó khăn và phức tạp, là sự chuyển tiếp giữa thời chiến sang thời bình; giữa thời kỳ trước đổi mới với đặc trưng là cơ chế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp sang thời kỳ đổi mới - Vietcombank đã hoàn thành xuất sắc vai trò là ngân hàng Nhà nước duy nhất được kinh doanh ngoại hối; đáp ứng được nhu cầu về vốn, ngoại tệ cho các đơn vị kinh tế trong nước, góp phần giúp vượt qua khủng hoảng sản xuất, kinh doanh.

Bên cạnh đó, Vietcombank cũng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong việc thực hiện các hiệp định tài chính của Chính phủ, thanh toán quốc tế, thu hút nguồn kiều hối... Đặc biệt, trong giai đoạn này, Vietcombank đã mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, mở rộng mạng lưới ngân hàng đại lý cả trong nước và nước ngoài, với thành công đầu tiên là thành lập Công ty Vinafico tại Hồng Kông.

Đồng hành cùng đất nước, Vietcombank còn là một trong những thành viên sáng lập ra đội tàu viễn dương, góp phần tạo ra những tấn dầu đầu tiên của đất nước. Trong giai đoạn chuyển tiếp giữa thời chiến sang thời bình, tình hình đất nước còn khó khăn, vận tải ngoại thương là một khâu quan trọng trong kinh tế đối ngoại, nhằm tạo ra ngoại tệ và đảm nhận việc vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu.  

Theo lời kể của bà Trương Thị Nhân - nguyên Tổng Giám đốc Tổng Công ty Vietfracht, trong hoạt động của mình, Vietcombank không những làm tốt khâu kiểm soát bằng đồng tiền, mà cũng năng động trong kinh doanh. Ví dụ cụ thể nhất là từ những năm 1976-1978, ngân hàng đã bảo lãnh cho Vietfracht vay vốn mua được 20 con tàu tổng trọng tải 170.000 tấn, trị giá 40 triệu Mỹ kim, và sau sáu năm trả hết nợ nước ngoài, vận chuyển được 4 triệu tấn hàng cho Nhà nước.

“Việc khai thác đội tàu tất nhiên do Tổng Công ty chúng tôi đảm nhiệm, nhưng nếu không có sự giúp đỡ của ngân hàng thì chúng tôi không thể nào đi từ không đến có được,” nguyên Tổng Giám đốc Tổng Công ty Vietfracht nhớ lại.

Những thành tựu đạt được của Vietcombank trong giai đoạn 1975-1988 đã chứng minh cho sự năng động, sáng tạo của đội ngũ lãnh đạo, đặc biệt là các đảng viên và tinh thần vượt khó, đoàn kết của tập thể cán bộ, nhân viên ngân hàng ngoại thương.

Tiên phong cổ phần hóa, khẳng định vị thế

Bước sang giai đoạn mới (từ năm 1988-1999), Việt Nam tiếp tục triển khai đường lối đổi mới toàn diện do Đảng đề xướng và lãnh đạo. Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, đây cũng là giai đoạn còn rất nhiều khó khăn, thách thức đặt ra cho cả nước; nhất là từ năm 1988 đến năm 1995, Việt Nam vẫn bị bao vây cô lập, cấm vận.

Điều đó đã tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế đất nước, đến ngành ngân hàng nói chung, trong đó có Vietcombank.

Trong biết bao khó khăn, giữa tình thế rất phức tạp, áp lực quốc tế yêu cầu phá sản,... Vietcombank đã vượt qua những cam go, thách thức lớn, trụ vững, dần ổn định và phát triển. Đồng thời, Vietcombank đã giữ vững và đảm bảo sự tăng trưởng. Năm 1999, tổng nguồn vốn đạt 46.272 tỷ đồng, tăng 99% so với năm 1996; dư nợ tín dụng đạt 11.500 tỷ đồng, tăng 44% so với năm 1996; tổng doanh số thanh toán xuất nhập khẩu đạt 6.580 triệu USD, tăng 12% so với năm 1997.

Cũng trong giai đoạn này, Vietcombank được đánh giá là một ngân hàng trong nước đi đầu trong đổi mới công nghệ. Thành công lớn nhất về công nghệ giai đoạn này là hoàn thành đưa vào hoạt động hệ thống ngân hàng lõi, đại lý thanh toán thẻ quốc tế. Dù có sự cạnh tranh gay gắt bởi 27 ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh và hàng chục ngân hàng trong nước, Vietcombank vẫn duy trì được thị phần thanh toán quốc tế ổn định ở mức 30% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước.

Nhìn lại giai đoạn 1988-1999, kết quả thấy rõ là Vietcombank đã đạt được những thành tựu cơ bản. Thành công nổi bật trong giai đoạn đầu thực hiện đường lối đổi mới của Vietcombank là đã thay đổi hẳn phương pháp quản lý, tập quán kinh doanh và tư duy kinh tế của mỗi cán bộ, công nhân viên; lấy hạch toán kinh doanh và hiệu quả kinh tế - xã hội làm nguyên tắc và mục tiêu hoạt động.

Năm 2000 mở đầu cho một thế kỷ mới, mang đến những vận hội, thời cơ mới đan xen với cả những khó khăn, thách thức cho sự nghiệp đổi mới của Việt Nam. Sau quá trình phát triển đồng hành cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Vietcombank đã đạt được một số bước tiến quan trọng: Giữ vững vị trí là ngân hàng đối ngoại hàng đầu của Việt Nam, có thế mạnh về nghiệp vụ thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, huy động vốn và đầu tư cho nền kinh tế.

Về công tác đảng, cuối năm 2000, Đảng bộ cơ sở Vietcombank đã có 17 chi bộ trực thuộc với 192 đảng viên. Đến tháng 10/2005, số lượng đảng viên đã tăng gần gấp đôi so với cuối năm 2000 (375 đảng viên), sinh hoạt tại 20 chi bộ trực thuộc.

Phát huy vai trò của một Đảng bộ cơ sở lớn trong ngành ngân hàng, Đảng ủy Vietcombank đã chỉ đạo các Chi bộ trực thuộc thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; kiên trì thực hiện mục tiêu đổi mới; gắn nội dung của cuộc vận động làm trong sạch Đảng và nội dung cuộc đấu tranh chống tham nhũng với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành ngân hàng và của Vietcombank.

Với nền tảng vững vàng về điều hành và sáng tạo đổi mới, giai đoạn 2006-2008, Vietcombank đã tiên phong cổ phần hóa trong lĩnh vực ngân hàng và thành công rực rỡ. Theo đó, từ năm 2008, Vietcombank chính thức hoạt động với tư cách pháp nhân là Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam.

Cũng trong giai đoạn này, Vietcombank không ngừng phát huy các thế mạnh của mình trong hoạt động kinh doanh cũng như thương hiệu và mạng lưới. Thương hiệu và uy tín được minh chứng qua hàng chục, hàng trăm sản phẩm dịch vụ, tiện ích cung ứng cho khách hàng, chiếm thị phần lớn trong các mảng hoạt động kinh doanh thẻ, thanh toán xuất nhập khẩu, tín dụng, kinh doanh ngoại tệ...

Từ một ngân hàng thương mại Nhà nước, chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, đến năm 2008, Vietcombank đã phát triển thành ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động đa năng, chủ đạo, chủ lực của Nhà nước; khẳng định vị thế và uy tín vững chắc trên thị trường tài chính - tiền tệ trong nước và quốc tế; luôn tiên phong đổi mới trong hoạt động kinh doanh và công tác quản trị điều hành.

Trong suốt gần 2 thập kỷ qua, Đảng bộ Vietcombank và các Đảng bộ, chi bộ trực thuộc cũng không ngừng củng cố, đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng tổ chức ngày càng lớn mạnh; qua đó thúc đẩy phát triển bền vững, an toàn, hiệu quả.

Ngay cả trong giai đoạn thách thức chưa từng có tiền lệ cho nền kinh tế (khi một lúc xảy ra đại dịch COVID-19, xung đột Nga - Ukraine, cuộc chiến lạm phát ở các nền kinh tế phát triển tạo ra làn sóng tăng lãi suất trên phạm vi toàn cầu) - Vietcombank vẫn thực hiện thành công “nhiệm vụ kép”: Vừa đảm bảo hoạt động kinh doanh liên tục, an toàn, hiệu quả; vừa chung tay cùng cả nước quyết liệt phòng, chống dịch và chia sẻ, đồng hành cùng doanh nghiệp, khách hàng vượt qua khó khăn, góp phần nhanh chóng phục hồi, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong điều kiện bình thường mới và trở thành điểm sáng trong toàn ngành Ngân hàng.

Đặc biệt, Vietcombank đã có sự tăng trưởng ấn tượng về quy mô, tiếp tục giữ vững vị trí đầu ngành về nộp Ngân sách Nhà nước, đạt trên 10.000 tỷ đồng/năm, số 1 về chất lượng và hiệu quả hoạt động trong hệ thống ngân hàng và là doanh nghiệp niêm yết có quy mô vốn hoá lớn nhất Việt Nam, đứng thứ 100 trong số các ngân hàng niêm yết lớn nhất và thứ 1.122 trong số các công ty niêm yết lớn nhất toàn cầu.

Đến nay, hệ thống mạng lưới của Vietcombank mở rộng gồm 121 chi nhánh với 510 phòng giao dịch trải dài khắp cả nước, 4 công ty con trong nước và 3 công ty con ở nước ngoài. Không chỉ khẳng định vị thế bằng hiệu quả kinh doanh, đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước, Vietcombank còn tiên phong đồng hành cùng Chính phủ trong việc hỗ trợ doanh nghiệp, người dân; thực hiện các chính sách an sinh xã hội, hướng tới một ngân hàng xanh, phát triển bền vững vì cộng đồng.

Với nền tảng vững chắc đã dày công gây dựng trong suốt hơn 62 năm qua, nhất là những kết quả ấn tượng, toàn diện đã đạt được trong thời gian gần đây, Vietcombank đang góp phần quan trọng vào công cuộc kiến tạo vị thế “rạng rỡ Việt Nam.”/.

*Những đóng góp của Vietcombank đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý như: Huân chương Lao động hạng Nhì (năm 1993); Huân chương Độc lập hạng Ba (2003); Huân chương Hồ Chí Minh (năm 2008); Huân chương Độc lập hạng Nhất (2013); Huân chương Lao động hạng Nhất (2018). Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập (năm 2023), Vietcombank vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động…

Nguyễn Tiến Đạt, Phạm Thị Khánh Hòa (Chi bộ 1)

Từ chối
Chúng tôi sử dụng cookie để phục vụ tốt hơn.
Chấp nhận