[KỶ YẾU BÚA LIỀM VÀNG] Ngân hàng Vietcombank: vững vàng kiến tạo tầm vóc, tiến bước dưới lá cờ vinh quang của Đảng (Phần 1)

Tác phẩm đạt Giải Khuyến khích Giải Búa liềm vàng toàn quốc lần thứ X – năm 2025. Tác phẩm đăng trên Vietnam+ dướ dạng megastory, chi tiết phần giới thiệuphần 1.

Trong suốt hành trình 80 năm Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của đất nước, ngành ngân hàng nói chung, đặc biệt là Ngân hàng cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) luôn làm tốt nhiệm vụ đảm bảo “huyết mạch” tài chính cho cách mạng, cho quốc gia; cũng như sứ mệnh: Giữ giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, làm điểm tựa vốn vững chắc cho người dân, doanh nghiệp.

Từ những bước chân âm thầm của 10 con người với mật danh B29 vận chuyển ngoại tệ cho tiền tuyến, vận chuyển vàng từ Sài Gòn ra Hà Nội, đến một ngân hàng hàng đầu quốc gia trên mặt trận kinh tế - tiên phong chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, Vietcombank đang khẳng định được vị thế ngân hàng số 1 Việt Nam, tự hào tiến bước dưới lá cờ vinh quang của Đảng, vững vàng cùng đất nước tiến bước vào Kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.

Phần 1: “Binh chủng không súng đạn”: Cõng trên vai cả nền tài chính cách mạng, đi qua máu lửa

Ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đất nước đang tạm thời bị chia cắt làm hai miền; với chức năng là một ngân hàng đối ngoại của Nhà nước, kiên định theo lý tưởng của Đảng, yêu cầu của Chính phủ, chính quyền cách mạng, Vietcombank đã hoàn thành xuất sắc vai trò chủ lực trong các hoạt động thanh toán quốc tế, quản lý hiệu quả nguồn ngoại tệ phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Ở miền Nam, những chiến sĩ thầm lặng của ngành ngân hàng trên mặt trận tài chính-tiền tệ đã vượt qua mưa bom, bão đạn, viết nên con đường huyền thoại. Đó là con đường chuyển tiền bí mật chi viện tài chính cho cách mạng miền Nam. Những chiến sỹ ngân hàng khi ấy đã “cõng” trên vai cả nền tài chính cách mạng, đi qua máu lửa để giữ cho mạch tiền không đứt, niềm tin không tắt. Họ là những người lính của “binh chủng không súng đạn,” nhưng đã góp phần quan trọng làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Từ sứ mệnh bảo vệ “chủ quyền tiền tệ” của đất nước

Trong những ngày vừa qua, người dân cả nước đã được hòa mình vào những âm hưởng lịch sử của những ngày Tết Độc lập, âm hưởng của lễ diễu binh, diễu hành (A80, cùng nhiều hoạt động khác như triển lãm thành tựu của đất nước, nhân dân kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9.

Là thế hệ trẻ, sinh ra và lớn lên giữa thời bình, chúng tôi hiểu rằng để đất nước có được điều kiện phát triển toàn diện như ngày nay, để dáng hình chữ S thiêng liêng hai chữ Việt Nam nổi bật trên bản đồ thế giới, là nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, và sự hy sinh quên mình vì Tổ quốc của biết bao đồng bào, đồng chí, trong đó có cả “những chiến sỹ ngân hàng.”

Nhắc lại những trang sử của ngành, đồng chí Nguyễn Thanh Tùng - Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank chia sẻ, ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước thách thức nghiêm trọng về tài chính - tiền tệ. Lúc bấy giờ, kho bạc chỉ còn lại hơn 1,25 triệu đồng Đông Dương, một nửa trong đó là tiền rách. Trong khi đó, Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản Pháp, tìm cách cản trở hoạt động tài chính của chính quyền cách mạng.

Để chủ động về tiền tệ đồng thời phục vụ cho kháng chiến và kiến thiết đất nước, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, Đảng ta xác định phải thành lập Ngân hàng Quốc gia, phát hành đồng bạc mới và cải tiến chế độ tín dụng. Tiếp đó, ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Đây là mốc son đặt nền móng cho hệ thống ngân hàng độc lập của Việt Nam.

Từ đây, một hệ thống ngân hàng thống nhất được hình thành và trở thành một bộ phận nòng cốt của lực lượng kinh tế quốc doanh trong kháng chiến chống Pháp, góp phần củng cố hệ thống tiền tệ độc lập, tự chủ của đất nước, phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh, phục vụ cuộc kháng chiến.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam bước vào cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ cấp bách của Ngân hàng Quốc gia là phải nhanh chóng tiếp quản nhà băng Đông Dương ở Hà Nội, phát hành tiền đồng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thu hồi tiền địch tại các vùng mới giải phóng ngay khi tiếp quản, thiết lập và quản lý thống nhất thị trường tiền tệ ở miền Bắc, thu hồi tiền của ta ở miền Nam, nhằm bảo vệ chủ quyền tiền tệ của đất nước.

Theo sử sách ngành ngân hàng ghi lại, mọi việc thanh toán đối ngoại thời kỳ này đều phải thông qua Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Nhà nước cấm xuất nhập khẩu, tàng trữ và lưu hành trong nước tất cả các thứ ngoại hối, trừ trường hợp được Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cho phép. Bên cạnh đó, việc mở rộng quan hệ quốc tế, nhất là với các nước xã hội chủ nghĩa đã thúc đẩy tăng cường hợp tác thương mại, viện trợ.

Trong giai đoạn 1955-1960, Việt Nam đẩy mạnh phát triển ngành ngoại thương, tăng cường nhập khẩu dưới ba hình thức chủ yếu: Mậu dịch, vay nợ và viện trợ. Trong đó, việc nhận hàng viện trợ và nhận hàng thông qua vay nợ chiếm phần chủ yếu. Việt Nam đã ký các hiệp định thương mại, viện trợ và hợp tác kinh tế với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là với Liên Xô và Trung Quốc - đây là hai nước đóng vai trò quan trọng nhất trong việc cung ứng các nguồn hàng cho Việt Nam.

Yêu cầu đặt ra đối với ngành ngân hàng là phải kiện toàn về tổ chức, nhân lực chuyên trách để đáp ứng nhiệm vụ; phải có một cơ quan chuyên trách để quản lý ngoại hối của đất nước. Vì thế, ngày 20/1/1955, Sở Quản lý ngoại hối Trung ương được thành lập. Đây chính là tiền đề để đến ngày 30/10/1962, Chính phủ ban hành Nghị định số 115/CP về việc thành lập Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank).

Từ ngày 1/4/1963, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đi vào hoạt động với tư cách một pháp nhân Ngân hàng thương mại giao dịch trên thương trường trong nước và quốc tế. Trong bối cảnh đó, tổ chức Đảng cũng được thành lập.

… đến đảm bảo “huyết mạch” tài chính lưu thông

Nhấp ngụm trà sen, rồi lật mở những trang sử vẻ vang của ngân hàng, đồng chí Nguyễn Thanh Tùng tiếp tục kể giai đoạn 1963-1975, đế quốc Mỹ cho máy bay ném bom đánh phá các tỉnh miền Bắc với mức độ ác liệt, nhằm thực hiện âm mưu phá hủy, cắt đứt con đường chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Trong muôn vàn khó khăn, vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết. Chi bộ, Liên Chi bộ Cục Ngoại hối - Ngân hàng Ngoại thương đã chú trọng công tác xây dựng tổ chức vững mạnh. Công tác tổ chức hướng trọng tâm vào kiện toàn bộ máy tổ chức và lãnh đạo công tác bồi dưỡng phát triển đảng viên.

Đặc biệt, trước yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chi viện cho chiến trường miền Nam, Chi bộ, Liên Chi bộ Cục Ngoại hối - Ngân hàng Ngoại thương đã chú trọng lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng; kịp thời động viên cán bộ, đảng viên theo lý tưởng của Đảng, vượt qua khó khăn của chiến tranh, sự thiếu thốn về điều kiện làm việc và sinh hoạt để hoàn thành nhiệm vụ được Nhà nước và ngành ngân hàng giao phó.

Trước yêu cầu chi viện khẩn cấp cho miền Nam, các cán bộ, nhân viên ngân hàng vừa công tác, vừa chiến đấu, đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và trực tiếp tham gia chuyển nguồn ngoại tệ lớn chi viện cho chiến trường miền Nam, đảm bảo dòng “huyết mạch” tài chính thông suốt, phục vụ hiệu quả cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tình thế cấp bách, khí thế giải phóng miền Nam sục sôi, năm 1965, để công tác hậu cần phục vụ kịp thời cho chiến trường, Bộ Chính trị quyết định thành lập “Quỹ Ngoại tệ đặc biệt” với phiên hiệu B29, đóng vai trò như một “ngân hàng ngoại hối đặc biệt,” phục vụ riêng cho việc chi viện chiến trường miền Nam bằng ngoại tệ.

B29 có danh nghĩa của một Cục Ngoại hối (để làm thủ tục khi cần thiết) nhưng với tính chất công việc đặc biệt bí mật, B29 như một “binh đoàn tiền tệ” theo nguyên tắc của hoạt động tình báo, chịu sự chỉ đạo và báo cáo đơn tuyến với cấp trên. Bấy giờ, B29 được biên chế trên 10 người. Người trực tiếp điều hành B29 là ông Mai Hữu Ích - Phó Cục trưởng Cục Ngoại hối, kiêm Phó Giám đốc Vietcombank.

Tất cả cán bộ của B29 đều là Đảng viên, lập thành một tổ Đảng thuộc Chi bộ Phòng Kế toán và Phòng Ngân quỹ, thuộc Liên chi bộ Cục Ngoại hối - Vietcombank, thuộc Đảng ủy cơ quan Ngân hàng Nhà nước Trung ương.

Để chi viện cho chiến trường miền Nam, những chiến sĩ thầm lặng của ngành ngân hàng trên mặt trận tài chính-tiền tệ, đã vượt qua mưa bom, bão đạn, viết nên một con đường huyền thoại. Đó là con đường chuyển tiền bí mật theo hai phương thức thanh toán là AM (tiền mặt) và FM (chuyển khoản). Đây là những quy ước tuyệt mật của thời chiến, chưa có ghi trong bất cứ sách giáo khoa nào về ngân hàng.

Lúc bấy giờ, để đảm bảo tuyệt đối bí mật và an toàn, tại tầng hầm số 49 Lý Thái Tổ, Hà Nội - kho ngoại tệ đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước do Vietcombank phụ trách - những xấp tiền được niêm phong, kiểm đếm chính xác đến từng tờ, cất vào hòm sắt, bàn giao cho các lực lượng đặc nhiệm. Từ đây, hành trình xuyên rừng Trường Sơn, xuyên biển bắt đầu thông qua tàu không số, xe ngụy trang, vali ngoại giao…

Theo ông Lê Hoàng, nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thành viên B29, để đưa tiền vào chiến trường phải vận chuyển đường bộ theo đường mòn Hồ Chí Minh hoặc qua dãy Trường Sơn. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, Mỹ ngày đêm máy bay ném bom oanh tạc dãy Trường Sơn. Có nhiều chiến sĩ đã hy sinh và gần 4 triệu USD bị “nung rục” do bom đạn. Trước tình thế đó, B29 đã phải tìm mọi cách vận chuyển theo đường biển và đường hàng không để rút ngắn thời gian vận chuyển tiền đã phục vụ kịp thời cho nhu cầu kháng chiến, chi viện cho miền Nam.

Từ những phương thức vận chuyển tiền mặt hết sức thô sơ, tốn kém, sau đó các cán bộ “chiến sĩ ngân hàng” đã chuyển đổi sang phương thức chuyển khoản (FM), giúp cho việc vận chuyển tiền từ quỹ đặc biệt ở Hà Nội vào Nam rút từ 30 ngày xuống còn 6 ngày và sau đó chỉ còn 30 phút; đồng thời thiết lập “đường dây” bí mật làm nhiệm vụ đổi ngoại tệ và tiếp nhận các nguồn viện trợ của bạn bè quốc tế.

Bằng những sự mưu trí, sáng tạo, kiên trung, dòng chảy tiền tệ của B29 đã góp phần duy trì sức mạnh chiến trường, cung cấp nguồn lực cho những căn cứ kháng chiến nằm sâu trong lòng địch; qua đó giúp non sông nối liền một dải.

Góp phần làm nên đại thắng, thống nhất đất nước

Ông Nguyễn Nhật Hồng - Nguyên Trưởng phòng B29, cho biết phương thức FM xuất phát từ ý muốn của ta và chịu nhận trả tiền sau ở nước ngoài của một số cơ sở cung cấp tiếp tế vật tư hàng hóa cho vùng giải phóng. Đây như một kiểu “đào hối” có lợi cho phía giải phóng và tất nhiên đảm bảo lợi ích thiết thực của nhà cung cấp.

“Nghiệp vụ ngân hàng ở đây là sự chuyển tiền bằng điện hối hoặc chuyển tiền bằng séc cầm tay. Nhưng đặc biệt ở chỗ đây là một kiểu thanh toán tay ba. Quỹ đặc biệt B29 Hà Nội chuyển trả tiền thay cho chiến trường nhận hàng. Thời gian và không gian khác nhau. Nội dung là chuyển tiền điện hối, séc, nhưng sự thể hiện trên giấy trắng mực đen thì không ai biết đó là cái gì! Tất cả đã đều được quy ước. Lộ một khâu nào trong dây chuyền là xem như hết! Rất may là ta đã làm việc trót lọt đến tận ngày 30/4/1975,” Nguyên Trưởng phòng B29 tự hào chia sẻ.

Nguyên Phó Ban Tài chính Đặc biệt của Trung ương Cục miền Nam, nguyên Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lữ Minh Châu, cũng cho biết: “Với biện pháp FM, nói cách khác, với hoạt động ngân hàng đặc biệt trong thời kỳ chống Mỹ tại miền Nam, chúng tôi - Ban Công tác đặc biệt trực thuộc Trung ương Cục miền Nam, với các loại bí số D.270 và N.2683, mà tôi là Phó Trưởng ban, anh Mười Thăng Long là Trưởng ban, đã cung cấp các loại tiền nhanh chóng, đủ và đúng theo yêu cầu của Cục Hậu cần miền Nam, thống nhất Tổ quốc.”

Trong suốt những năm tháng trên, tiền mặt các loại, chủ yếu bằng đô la Mỹ và tiền chính quyền Sài Gòn, theo cả hai phương thức chi viện AM và FM cuối cùng đều được tập trung về các vùng căn cứ kháng chiến, do các cơ quan ngân tín của Đảng trực tiếp quản lý, điều hành phân phối sử dụng cho các nhu cầu kháng chiến.

Ông Lê Văn Châu, nguyên cán bộ Quỹ Ngoại tệ đặc biệt B29, cho biết sau 10 năm làm nhiệm vụ, đến tháng 4/1975, các cán bộ chiến sĩ ngành ngân hàng đã chi viện cho chiến trường miền Nam khoảng 1 tỷ USD, hàng tỷ tiền Sài Gòn và hàng trăm triệu tiền Campuchia, Kíp Lào, Bath Thái Lan… Tất cả số viện trợ đó đều được vận chuyển, bảo quản an toàn, cấp phát theo quy định, không thiếu một xu.

Nhìn lại toàn bộ quá trình vận hành của đồng tiền và khối lượng tiền đã phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thấy rõ Vietcombank đã có công lao rất to lớn trong giai đoạn đặc biệt của đất nước. Ngân hàng cổ phần Ngoại thương đã hoàn thành xuất sắc vai trò hậu phương vững chắc về tiền tệ; trực tiếp tham gia điều hành, vận chuyển ngoại tệ từ miền Bắc vào Nam phục vụ kháng chiến.

Theo “ngọn đuốc lý tưởng của Đảng,” khát vọng thống nhất đất nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân viên có bản lĩnh, trí tuệ, không quản ngại hy sinh gian khó của Vietcombank, đã góp phần đảm bảo cho dòng huyết mạch tài chính lưu thông, phục vụ cho cách mạng, đã góp phần chuyển tải tấm lòng của Chính phủ và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới đến với miền Nam ruột thịt. 

Đáng nể hơn, để thực hiện nhiệm vụ trên, những chiến sỹ ngân hàng đã “cõng” trên vai cả nền tài chính cách mạng, đi qua máu lửa để giữ cho mạch tiền không đứt, cho niềm tin không tắt. Họ là những người lính của “binh chủng không súng đạn,” đã góp phần quan trọng, làm nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc, mà đỉnh cao là đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước./.

*Trong kháng chiến chống Mỹ, B29 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tổ chức điều phối “Quỹ Ngoại tệ đặc biệt” để bí mật chi viện ngoại tệ cho chiến trường miền Nam với hàng trăm chuyến hàng trị giá hàng trăm triệu USD. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, B29 đã đối chiếu số liệu tiếp nhận viện trợ của các chiến trường và tích cực đôn đốc chuyển nộp về số tiền ngoại tệ chưa sử dụng hết để Trung ương tập trung sử dụng theo yêu cầu của tình hình mới sau chiến tranh.
Ghi nhận thành tích xuất sắc, năm 2009, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân cho tập thể B29 và N.2683. Đây là “một chiến công thầm lặng” của Vietcombank đã góp phần trực tiếp vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. 

Nguyễn Tiến Đạt, Phạm Thị Khánh Hòa (Chi bộ 1)
Từ chối
Chúng tôi sử dụng cookie để phục vụ tốt hơn.
Chấp nhận